DỊCH VỤ - SỬA CHỮA

PHẦN KHÁCH HÀNG THANH TOÁN THIẾU KHÔNG BIẾT LÀM THẾ NÀO?

Em là kế toán mới mong cô giáo và các anh chị giúp đỡ ạ

Cty em có tình huống là xuất bán hàng cho npp, đến cuối tháng tính Tiền thưởng doanh số rồi cấn Trừ vào công nợ cho đơn hàng kế tiếp. Npp là hộ kinh doanh cá thể ko lấy hóa đơn, bên em chỉ xuất hóa đơn để kê khai thuế rồi lưu lại.
– vấn đề là xuất bán 180tr, Trừ lương tháng trước 13 tr, khách chuyển167tr vào tkng Cty. Như vậy phần nội bộ là khách đã thanh toán hết Tiền.
– nhưng phần thuế thì lại bị thiếu 13tr đó, em ko biết làm thế nào để khớp công nợ là khách thanh toán hết. Nếu theo dõi trên phần thuế tính khoản 13tr này vào cp hoa hồng thì sếp và kh ko muốn vì lại phải nộp 10% thuế tncn.
– Nếu em làm pthu 13 tr đó thì có hợp lệ, hợp lí không.
– Vậy đơn hàng mà Trừ lương thì em bảo kh ck vào tài khoản của cá Nhân, còn đơn hàng nào ko bị Trừ Tiền thì em bảo khách ck vào tk cty để em xuất hóa đơn kê khai thuế đc ko.
– Và những hoa đơn em xuất rồi lưu lại đó có cần đóng dấu Cty không ạ.

Tham khảo: Nghề kế toán

Em đang cần gấp mong cô giáo và anh/chị giúp đỡ ạ

TRẢ LỜI

Chào em!

Có khá nhiều vấn đề cần chia sẻ với em qua tình huống và cách tư duy để xử lý tình huống em đề xuất “PHẦN KHÁCH HÀNG THANH TOÁN THIẾU KHÔNG BIẾT LÀM THẾ NÀO?

Qua chia sẻ của em “phần thuế (báo cáo nộp cơ quan thuế) thì lại bị thiếu 13tr đó, em ko biết làm thế nào để khớp?”. Để giải quyết triệt để vấn đề này, chúng ta cần tìm hiểu gốc rễ vấn đề em ạ.

  • Bản chất vấn đề không phải do khách hàng thanh toán thiếu mà ở chỗ HIỆN DN ĐANG PHẢN ÁNH THIẾU NGHIỆP VỤ KINH TẾ PHÁT SINH. Đó là NV “ Trả tiền công cho một cá nhân nhận gia công/ thực hiện cung cấp dịch vụ nhân công cho DN bằng tiền mặt hoặc bù trừ công nợ”
  • Để phản ánh chi phí nhân công này, em có thể nghiên cứu Thông tư 111/2013/TT-BTC và Thông tư 92/2015/TT-BTC để rõ căn cứ pháp lý. Căn cứ các quy định này, để chi phí nhân công này là chi phí được trừ, DN của em cần:

+ Ký hợp đồng giao khoán/ cung cấp dịch vụ nhân công với cá nhân này

+ Lập chứng từ khấu trừ thuế TNCN 10% khi chi trả thu nhập cho cá nhân này (1,3 trđ)

+ Chứng từ thanh toán cho các nhân (Phiếu chi/UNC)

+ Tờ khai quý và quyết toán năm (tại thời điểm kết thúc năm) có phản ánh về khoản thuế TNCN từ tiền công này đã khấu trừ và nộp và NSNN

+ Chứng từ Nộp khoản thuế TNCN này vào ngân sách nhà nước

  • HẠCH TOÁN Nếu chi phí khoán nhân công này trực tiếp tạo nên doanh thu, em có thể hạch toán trực tiếp vào giá vốn: Nợ TK 632/Có TK 111, 112
  • KẾT LUẬN:

Việc phản ánh đúng bản chất NVKT như trên sẽ có 2 tác dụng

+ Giúp em, DN không phải vất vả “tìm” các cách không chính thống để phản ánh phần tiền thiếu khách hàng không thanh toán (VD: chuyển thành phí hoa hồng; lập phiếu thu khống hay yêu cầu khách hàng chuyển khoản vào tài khoản cá nhân mà không thanh toán cho công ty….)

+ DN tránh được các rủi ro pháp lý khi phản ánh sai bản chất nghiệp vụ kinh tế phát sinh, em nhé (Việc này không khó để phát hiện. Nếu cơ quan thuế phát hiện ra thì rất nhiều hệ lụy không hay e ạ)

+ DN sẽ bị một khoản “lãi giả” nếu không phản ánh kịp thời, dựa trên các bằng chứng tin cậy về “số tiền khách hàng thanh toán thiếu”. Lâu ngày, số tiền này tích lũy sẽ dẫn đến BCTC phản ánh “méo mó” kết quả kinh doanh của DN, không còn hỗ trợ tốt cho chủ DN trong vấn đề cần thông tin tin cậy để ra các quyết định quản lý.

Xem thêm: Kế toán hồng trang

Mong em và chủ DN đã có gợi ý phù hợp để xử lý tốt vấn đề của mình!